|
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN DỰ VÀ CHÍNH TRỊ
(1966)
Lời Mở Đầu
Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước
này:
Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công
bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc,
việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và
những quyền bình đẳng và bất khả
chuyển nhượng của tất cả các
phần tử trong đại gia đình nhân loại
là nền móng của tự do, công lý và hoà bình
thế giới.
Nhìn nhận rằng những quyền này xuất
phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.
Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con
người tự do được hành xử
những quyền dân sự và chính trị cũng như
được giải phóng khỏi sự sợ hãi
và khốn cùng, chỉ có thể đạt
được nếu hội đủ những
điều kiện thuận tiện để con người
được hưởng những quyền dân
sự và chính trị cũng như những quyền
kinh tế, xã hội và văn hoá.
Xét rằng nghiã vụ của các quốc gia
hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp
Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên
toàn cầu những nhân quyền và những
quyền tự do của con người.
Nhận định rằng con người có nghiã
vụ đối với những người khác cũng
như đối với cộng đồng, nên có
trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những
quyền được nhìn nhận trong Công Ước
này.
Đồng chấp thuận những điều
khoản sau đây:
PHẦN I
Điều 1:
- Các dân tộc đều có quyền tự
quyết. Chiếu theo quyền này, họ được
tự do quyết định về chế độ
chính trị và tự do theo đuổi đường
hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn
hoá.
- Để đạt được mục tiêu này,
các dân tộc có quyền tự do sử dụng các
nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không
vi phạm những nghiã vụ phát sinh từ sự
hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt
căn bản trên quyền lợi hỗ tương
và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường
hợp các phương tiện sinh sống của
nghiệp đoàn không thể bị tước
đoạt.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này, kể cả những quốc gia có trách
nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ
khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc
thực thi quyền dân tộc tự quyết
chiếu theo các điều khoản của Hiến
Chương Liên Hiệp Quốc.
PHẦN II
Điều 2:
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này cam kết tôn trọng và bảo đảm
thực thi những quyền được nhìn
nhận trong Công Ước cho tất cả mọi
người sống trong lãnh thổ và thuộc
thẩm quyền quốc gia, không phân biệt
chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo,
chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc
quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay
bất cứ thân trạng nào khác.
- Trong trường hợp những quyền
được nhìn nhận trong Công Ước này
chưa được quy định thành văn
trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội
viên ký kết Công Ước cam kết sẽ ban hành
các đạo luật theo thủ tục luật pháp
quốc gia và theo các điều khoản của Công
Ước để các quyền này có hiệu
lực.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này cam kết:
- Bảo đảm cho các nạn nhân quyền
được đền bù hay đòi bồi thường
thỏa đáng khi những quyền tự do
của họ bị vi phạm, dầu rằng người
vi phạm là một viên chức chính quyền.
- Bảo đảm cho các nạn nhân quyền
được khiếu nại tại các cơ
quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc
gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và
phát triển quyền khiếu tố trước
toà án.
- Bảo đảm các cơ quan thẩm
quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những
sự đền bù hay bồi thường đã
tuyên
Điều 3: Các quốc gia hội viên ký
kết Công Ước này cam kết bảo đảm
quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành
xử những quyền dân sự và chính trị ghi
trong Công Ước.
Điều 4:
- Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương
công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ,
Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này có thể ban hành một số biện pháp
đình chỉ thi hành các nghiã vụ của
quốc gia ấn định trong Công Ước này.
Tuy nhiên những biện pháp này phải có tính cách
thật cần thiết vì nhu cầu của tình
thế, và không vi phạm các nghiã vụ của
quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc
tế, và cũng không được dùng để
kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ,
ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội.
- Trong mọi trường hợp những quyền
dân sự và chính trị ghi trong các điều 6,
7, 8 (khoản 1 và 2), và trong các điều 11, 15, 16,
18 của Công Ước không thể bị đình
chỉ thi hành.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này phải lập tức thông báo qua vị
Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cho các
quốc gia hội viên kết ước khác hay
biết những điều khoản nào trong Công
Ước đã bị đình chỉ thi hành, và vì
lý do gì. Ngay sau khi chấm dứt tình trạng
khẩn trương công cộng, họ cũng
phải thông báo theo thủ tục nói trên.
Điều 5:
- Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá
nhân nào có quyền giải thích các điều
khoản trong Công Ước này để cho phép
họ hoạt động hay làm những hành vi
nhằm tiêu diệt những quyền tự do đã
được Công Ước thừa nhận,
hoặc để giới hạn những quyền
tự do này quá mức ấn định trong Công
Ước.
- Các quốc gia hội viên kết ước nào
đã thừa nhận một số nhân quyền căn
bản trong luật pháp quốc gia, công ước,
quy chế hay tục lệ, sẽ không được
quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các
nhân quyền căn bản đó, viện cớ
rằng Công Ước này không thừa nhận
những nhân quyền đó, hay chỉ thừa
nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn.
PHẦN III
Điều 6:
- Mọi người đều có quyền
sống. Đây là một quyền bẩm sinh
được luật pháp bảo vệ. Không ai
có thể bị tước đoạt quyền
sống một cách độc đoán.
- Trong các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt
tử hình, toà án chỉ được tuyên án
tử hình đối với những tội hình
sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp
áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái
với những điều khoản của Công
Ước này và của Công Ước Ngăn
Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt
Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể
được thi hành chiếu theo một bản
án chung thẩm của một tòa án có thẩm
quyền.
- Điều luật này không cho phép các quốc
gia hội viên ký kết Công Ước này
được giải trừ các nghiã vụ ghi
trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng
Phạt Tội Diệt Chủng trong trường
hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành
tội diệt chủng.
- Các bị cáo bị tuyên án tử hình có
quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt.
Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình
phạt có thể được ban hành trong
mọi trường hợp.
- Án tử hình không được tuyên đối
với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi
khi phạm pháp, và cũng không được thi
hành đối với các phụ nữ mang thai.
- Điều luật này không thể được
viện dẫn để trì hoãn hay ngăn
cản việc bãi bỏ hình phạt tử hình
tại các quốc gia hội viên ký kết Công
Ước này.
Điều 7: Không ai có thể bị tra
tấn, hoặc phải chịu những hình phạt
hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm
hạ thấp phẩm giá con người. Đặc
biệt là, nếu không có sự ưng thuận
tự do của đương sự, không ai có
thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y
học hay khoa học.
Điều 8:
- Không ai có thể bị bắt làm nô lệ;
chế độ nô lệ và mọi hình thức
buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
- Không ai có thể bị bắt làm nô dịch.
- Không ai có thể bị cưỡng bách lao
động.
- Khoản 3 (a) nói trên không được áp
dụng tại các quốc gia trong đó luật
pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù
khổ sai.
- Trong phạm vi khoản này, không được
coi là "lao động cưỡng bách":
- Ngoài trường hợp nêu ở khoản
(b) trên đây, những công tác hay dịch
vụ mà các tù nhân phải làm trong thời
gian bị giam giữ chiếu theo một
bản án hợp pháp của toà án, hay phải
làm trong thời gian được phóng thích có
điều kiện.
- Nghiã vụ quân sự, hay nghiã vụ quốc
gia áp dụng cho những người được
luật pháp cho miễn thi hành nghiã vụ quân
sự vì lý do lương tâm.
- Nghiã vụ cộng đồng trong trường
hợp khẩn trương hay thiên tai đe
doạ đời sống hay sự an lạc
của cộng đồng.
- Những nghiã vụ dân sự thông thường.
Điều 9:
- Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh
thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ
hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể
bị tước đoạt tự do thân thể
ngoại trừ những trường hợp và theo
những thủ tục luật định.
- Khi bị bắt giữ, bị cáo phải
được tức thì thông báo về lý do
bắt giữ, và phải được thông báo
không chậm trễ về tội trạng bị cáo
buộc.
- Bị cáo bị bắt giữ hay giam cầm
về một tội hình sự phải được
dẫn giải không chậm trễ tới một
vị thẩm phán (hay một viên chức có
thẩm quyền tư pháp theo luật), để
được xét xử trong một thời
hạn hợp lý hay được phóng thích. Theo
thông lệ, không nhất thiết phải câu lưu
bị cáo trước ngày toà xử. Tuy nhiên để
bảo đảm sự hiện diện của
bị cáo trong phiên xử hay trong các giai đoạn
thẩm vấn, và để thi hành bản án,
nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo
đòi hỏi phải có bảo đảm.
- Những người bị bắt giữ hay giam
cầm đều có quyền yêu cầu toà án
thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp
của sự giam giữ, và phải được
phóng thích nếu sự giam giữ được xét
là bất hợp pháp.
- Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ
hay giam cầm bất hợp pháp có quyền
khiếu tố đòi bồi thường thiệt
hại.
Điều 10:
- Những người mất tự do vẫn
phải được đối xử nhân đạo
và tôn trọng nhân phẩm.
- Ngoại trừ những trường hợp
đặc biệt, các bị cáo chưa
được xét xử phải được
giam giữ cách biệt với những người
đã can án, và phải được đối
xử theo quy chế của những người
không can án.
- Các bị cáo thiếu nhi phải được
giam giữ cách biệt với người
lớn và phải được xét xử trong
thời hạn sớm nhất.
- Chế độ lao tù phải đặt
trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân,
tạo cho họ cơ hội cải hoá và
hội nhập vào đời sống xã hội.
Các thiếu nhi phạm pháp phải được
giam giữ cách biệt với người
lớn, và phải được đối
xử tuỳ theo tuổi tác và tình trạng pháp
lý của chúng.
Điều 11: Không ai có thể bị giam
giữ chỉ vì không có khả năng thi hành
một nghiã vụ khế ước.
Điều 12:
- Những người cư trú hợp pháp trong lãnh
thổ một quốc gia đều có quyền
tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi
cư trú trong lãnh thổ.
- Mọi người đều được
quyền tự do rời khỏi một quốc gia,
kể cả quốc gia của mình.
- Những quyền tự do ghi trên không thể
bị giới hạn, ngoại trừ những trường
hợp luật định vì nhu cầu bảo
vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay
những quyền tự do của người khác,
và nếu không trái với những quyền tự
do khác được thừa nhận trong Công Ước
này.
- Không ai có thể bị tước đoạt
quyền hồi hương một cách độc
đoán.
Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp
pháp trong lãnh thổ các quốc gia hội viên ký
kết Công Ước này chỉ có thể bị
trục xuất do một quyết định hợp
pháp. Trừ trường hợp có lý do cưỡng
thúc về an ninh quốc gia, người bị
trục xuất có quyền trình bày lý do để
chống lại quyết định trục xuất,
và có quyền nhờ người biện hộ
nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục
xuất tại các cơ quan hay người đại
diện cơ quan có thẩm quyền.
Điều 14:
- Mọi người đều bình đẳng trước
toà án. Mọi người đều có quyền
được xét xử công bằng và công khai
bởi một toà án độc lập, vô tư và
có thẩm quyền theo luật, để phán
xử về những tội trạng hình sự mà
mình bị cáo buộc hay về những quyền
lợi và nghiã vụ của mình trong các vụ
tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không
được tham dự một phần hay toàn
thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý,
trật tự công cộng hay an ninh quốc gia
trong một xã hội dân chủ, hay để
bảo vệ đời sống riêng tư
của các đương sự tranh tụng, hay,
trong những trường hợp thật cần
thiết, khi toà án quyết định rằng xét
xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền
lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình
sự và các bản án khác phải được
tuyên đọc công khai trước toà, ngoại
trừ trường hợp để bảo
vệ quyền lợi của thiếu nhi hay
của gia đình trong những vụ tranh tụng
về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.
- Bị cáo về các tội hình sự có
quyền được suy đoán là vô tội
cho đến khi bị chứng minh là có tội
theo luật.
- Trong các vụ hình sự, tất cả các
bị cáo đều được hưởng
đồng đều những bảo đảm
tối thiểu sau đây:
- Được tức thì thông báo tội
trạng với đầy đủ chi tiết
bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.
- Quyền có đủ thời gian và phương
tiện để chuẩn bị sự biện
hộ và được quyền liên lạc
với luật sư do mình lựa chọn.
- Được xét xử mau chóng, không diên trì
quá đáng.
- Được hiện diện trong phiên xử
để tự biện hộ hay nhờ
luật sư biện hộ do mình lựa
chọn; được thông báo về quyền
này trong trường hợp tự biện
hộ; và được quyền có luật sư
biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý
nếu bị cáo không có phương tiện mướn
luật sư.
- Được đối chất với các nhân
chứng buộc tội và được
quyền đòi nhân chứng và chất vấn các
nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng
một thủ tục.
- Được quyền có thông dịch viên
miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không
hiểu ngôn ngữ của toà.
- Được quyền không khai, để
khỏi phải tự buộc tội mình, hay
khỏi phải thú nhận tội trạng.
- Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét
xử phải căn cứ vào tuổi tác của
bị cáo và hướng về mục tiêu
cải huấn can phạm.
- Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng
cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.
- Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình
phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu
huỷ hay đương sự được ân
xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết
bị cáo đã bị phạt oan uổng, người
bị kết án có quyền đòi bồi thường
thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng
chứng cho biết, sở dĩ sự kiện
mới này không được phát giác trong
thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn
tại vì bị cáo.
- Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên
phạt một lần nữa về một
tội trạng đã được toà án phán
xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha
bổng, chiếu theo luật pháp và thủ
tục hình sự hiện hành.
Điều 15:
- Không ai có thể bị kết án về một
tội hình sự do những điều mình đã
làm hay không làm, nếu những điều ấy
không cấu thành tội hình sự chiếu theo
luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc
tế áp dụng hồi đó; mà cũng không
bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình
phạt được áp dụng trong thời gian
phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được
quyền hưởng hình phạt khoan hồng hơn
chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm
pháp.
- Điều luật này không có tác dụng ngăn
cản việc xét xử hay tuyên phạt một
bị cáo vì đã làm hay không làm những hành vi
cấu thành tội hình sự chiếu theo những
nguyên tắc luật pháp tổng quát được
thừa nhận bởi cộng đồng các
quốc gia trong thời gian đương sự
phạm pháp.
Điều 16: Ai cũng có quyền được
công nhận là con người trước pháp
luật bất cứ tại đâu.
Điều 17:
- Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay
độc đoán vào đời tư, gia đình,
nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái
phép đến danh dự và thanh danh.
- Ai cũng có quyền được luật pháp
bảo vệ chống lại những xâm phạm
ấy.
Điều 18:
- Ai cũng có quyền tự do tư tưởng,
tự do lương tâm và tự do tôn giáo.
Quyền này bao gồm quyền tự do theo
một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền
tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng
qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi
lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư
hoặc với người khác, tại nơi công
cộng hay tại nhà riêng.
- Không ai bị cưỡng bách tước đoạt
quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
- Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín
ngưỡng chỉ có thể bị giới
hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an
toàn công cộng, trật tự công cộng,
sức khỏe công cộng, đạo lý hay
những quyền tự do căn bản của người
khác.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này cam kết tôn trọng quyền của cha
mẹ hay người giám hộ trong việc giáo
dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín
ngưỡng của họ.
Điều 19:
- Mọi người đều có quyền giữ
vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.
- Mọi người đều có quyền tự
do phát biểu quan điểm; quyền này bao
gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp
nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý
kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay
ấn phẩm, dưới hình thức nghệ
thuật, hay bằng mọi phương tiện
truyền thông khác, không kể biên giới quốc
gia.
- Việc hành sử quyền tự do phát biểu
quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi
hỏi đương sự phải có những
bổn phận và trách nhiệm đặc biệt.
Quyền này chỉ có thể bị giới hạn
bởi pháp luật vì nhu cầu:
- Tôn trọng những quyền tự do và thanh
danh của người khác.
- Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công
cộng, sức khỏe công cộng hay đạo
lý.
Điều 20:
- Mọi hình thức tuyên truyền, cổ võ
chiến tranh phải bị luật pháp cấm
chỉ.
- Mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi
giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích
bạo động giữa các quốc gia, các
chủng tộc hay các tôn giáo phải bị
luật pháp cấm chỉ.
Điều 21: Quyền hội họp có tính cách
hoà bình phải được thừa nhận.
Việc hành xử quyền này chỉ có thể
bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu
cầu cần thiết trong một xã hội dân
chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn
công cộng, trật tự công cộng, sức
khỏe công cộng, đạo lý, hay những
quyền tự do của người khác.
Điều 22:
- Ai cũng có quyền tự do lập hội,
kể cả quyền thành lập và gia nhập các
nghiệp đoàn để bảo vệ quyền
lợi của mình.
- Việc hành xử quyền này chỉ có thể
bị giới hạn bởi luật pháp, vì các
nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân
chủ để bảo vệ an ninh quốc gia,
an toàn công cộng, trật tự công cộng,
sức khỏe công cộng, đạo lý, hay
những quyền tự do của người khác.
Điều luật này không có tác dụng ngăn
cấm việc ban hành các giới hạn luật
định liên quan đến sự hành xử
quyền tự do lập hội của các
giới quân nhân và cảnh sát.
- Điều luật này không có hiệu lực
cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công
Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948
về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo
Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành
hay áp dụng những đạo luật có tác
dụng vi phạm những bảo đảm
về những quyền tự do ghi trong Công Ước
Lao Động Quốc Tế.
Điều 23:
- Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn
bản trong xã hội và phải được xã
hội và quốc gia bảo vệ.
- Thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn có
quyền kết hôn và lập gia đình.
- Hôn thú chỉ được thành lập nếu
có sự ưng thuận hoàn toàn tự do của
những người kết hôn.
- Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước
này phải ban hành những biện pháp để
bảo đảm sự bình đẳng về
quyền lợi và trách nhiệm của vợ
chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng
như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn
phải quy định những biện pháp bảo
vệ quyền lợi của các con.
Điều 24:
- Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam
nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc
quốc gia hay xã hội, tài sản hay dòng dõi, các
trẻ em, với tư cách vị thành niên,
phải được gia đình, xã hội và
quốc gia bảo vệ.
- Trẻ em phải được khai sinh ngay sau
khi sinh, và được đặt tên họ.
- Trẻ em có quyền thủ đắc quốc
tịch.
Điều 25:
- Không bị kỳ thị (như đã quy định
ở điều 2) và không bị giới hạn
bất hợp lý, mọi công dân đều có
quyền và có cơ hội:
- Được tham gia vào việc điều hành
chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc
qua những đại biểu do mình tự do
tuyển chọn.
- Được bầu cử và ứng cử
trong những cuộc tuyển cử tự do và
công bằng theo định kỳ, bằng
phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm
trung thực ý nguyện của cử tri.
- Được quyền bình đẳng tham gia
công vụ trong nước.
Điều 26: Mọi người đều bình
đẳng trước pháp luật, và được
pháp luật bảo vệ bình đẳng không
kỳ thị. Trên phương diện này, luật
pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm
cho tất cả mọi người quyền
được bảo vệ một cách bình đẳng
và hữu hiệu chống mọi kỳ thị
về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn
ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm,
nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản,
dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.
Điều 27: Đối với các cộng
đồng thiểu số về chủng tộc, tôn
giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên,
Công Ước này bảo đảm cho các thành
phần thiểu số cũng với những người
khác trong cộng đồng của họ được
quyền hưởng văn hoá riêng, được
truyền giáo và hành đạo riêng, và được
sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.
(Với sự tu chính của Uỷ
Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền
Việt Nam)
Về đầu bài
|
[Tiếng
Anh]
Lời
giới thiệu
Lời nói đầu
Tuyên Ngôn Quốc
Tế Nhân Quyền
Quyền Dân Sự,
và Chính Trị
Quyền Kinh Tế, Xã
Hội, và Văn Hóa
Phần Diễn Giải
Nhân Quyền Bậc
1
Nhân Quyền Bậc
2
Quyền
An Cư
Quyền
Lạc Nghiệp
Nhân Quyền Bậc
3
Phụ Đính 1
|